Ban Tổ chức Giải thưởng Sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2008 (VIFOTEC) đã quyết định tặng giải thưởng cho 35 công trình, bao gồm: hai giải nhất, tám giải nhì, 12 giải ba và 13 giải khuyến khích.
Ðồng thời đã đề nghị Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới tặng Giải thưởng WIPO cho một công trình đoạt giải nhất thuộc lĩnh vực cơ khí và tự động hóa và một tác giả nữ xuất sắc nhất, có công trình đoạt giải ba, thuộc lĩnh vực sinh học phục vụ sản xuất và đời sống. 35 công trình đoạt giải thưởng VIFOTEC năm 2008 thuộc sáu lĩnh vực: Cơ khí - tự động hóa; vật liệu; công nghệ thông tin - điện tử - viễn thông; sinh học; bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mới. Các công trình nói trên đã và đang phát huy hiệu quả trong hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước. Dưới đây là kết quả ứng dụng vào sản xuất và đời sống của một số công trình đoạt giải.
Lĩnh vực cơ khí - tự động hóa
Công trình "Xây dựng hệ thống thiết bị và phần mềm công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ sát hạch lái xe tự động" của tác giả Phạm Hồng Quang thuộc Công ty cổ phần Phần mềm tự động hóa điều khiển CADPRO. Tác giả đã thiết kế hệ thống và nguyên tắc thực hiện tự động hóa hệ thống dựa trên cảm biến từ trường và máy tính. Sản phẩm của công trình đã ứng dụng cho 16 trung tâm sát hạch để cấp giấy phép lái xe trong cả nước; thay thế công nghệ và thiết bị nhập khẩu không những chỉ trong lĩnh vực hẹp sát hạch lái xe tự động mà còn làm tiền đề và cơ sở để các công trình đầu tư trong nước tin tưởng và sử dụng thiết bị, giải pháp công nghệ thông tin và truyền thông mà 100% thiết kế và sản xuất bởi khoa học - công nghệ Việt Nam.
Công trình "Nghiên cứu, thiết kế, công nghệ đóng tàu kéo - cứu nạn - cứu hộ 3.500 CV trong mọi điều kiện thời tiết phục vụ cho cảnh sát biển Việt Nam và xuất khẩu" của tác giả Hà Sơn Hải và cộng sự thuộc Công ty Sông Thu, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng. Lần đầu, Việt Nam đóng tàu kéo - cứu hộ 3.500 CV với thiết kế công nghệ của Việt Nam đạt tiêu chuẩn châu Âu. Ðề tài đã ứng dụng công nghệ đóng úp tổng đoạn và lắp ghép mô-đun. Ðã sử dụng công nghệ Bolit trong lát sàn tàu vừa cách âm, vừa cách nhiệt với tuổi thọ độ bền cao. Lần đầu tiên, tàu đóng mới được đưa xuống nước trên hệ thống sàn nâng tàu Syncro lift với thời gian 30 phút, từ khi phát lệnh hạ thủy cho đến khi con tàu nổi khỏi giàn xe kéo vào nơi neo đậu. Ðây là loại tàu chuyên dụng lớn nhất, thuộc sê-ri DST 4612 lần đầu được đóng tại Việt Nam, con tàu được thiết kế là mẫu tàu kéo - cứu nạn - cứu hộ hiện đại, kết hợp với những tiến bộ khoa học mới nhất trong thiết kế loại tàu kéo này và được coi là chuẩn mực mới nhất trong ngành hàng hải hiện đại, với tốc độ lớn nhất khi không kéo 12,5 hải lý/giờ, sức chịu sóng gió cao trên cấp 12. Việc nghiên cứu thiết kế công nghệ đóng tàu kéo - cứu nạn - cứu hộ 3.500 CV trong mọi điều kiện thời tiết thành công với chất lượng tương đương với sản phẩm cùng loại được đóng tại Hà Lan, nhưng giá thành giảm được khoảng 50 tỷ đồng so với mua mới. Như vậy, theo nhu cầu trang bị bốn con tàu kéo cứu nạn 3.500 CV cho cảnh sát biển Việt Nam, thì Công ty Sông Thu đã tiết kiệm được cho đất nước khoảng 200 tỷ đồng.
Lĩnh vực công nghệ vật liệu
Công trình "Dây chuyền công nghệ chế tạo tro bay nhiệt điện Phả Lại công suất 25.000 tấn/tháng" của tác giả Lê Tuấn Minh và cộng sự thuộc Viện Khoa học Vật liệu. Lần đầu tiên trong nước đã đưa ra một giải pháp thiết bị và công nghệ đồng bộ, nhằm biến một chất phế thải của ngành công nghiệp năng lượng (tro bay nhiệt điện) thành các sản phẩm có giá trị cao sử dụng làm phụ gia cho công nghệ bê-tông đầm lăn, sản xuất gạch tuy-nen và cho các mục đích sử dụng đặc biệt khác. Thiết bị cho dây chuyền công nghệ này hoàn toàn được các tác giả tự thiết kế, chế tạo trong nước, dễ dàng vận hành, sử dụng phù hợp trình độ lao động hiện có của địa phương. Dây chuyền chế biến tro bay này đã áp dụng triển khai ở quy mô 24.000 tấn/tháng tại Công ty cổ phần Sông Ðà 12 - Cao Cường. Hiện công ty đang là nhà cung cấp tro bay đầu tiên và chủ lực cho công trình thủy điện Sơn La và công trình thủy điện Bản Chác. Hiệu quả xã hội là các nhà máy nhiệt điện không còn tồn đọng phế thải chiếm diện tích lớn, làm ảnh hưởng đến môi trường chung quanh. Giải quyết triệt để việc phát tán bụi ra môi trường nhằm cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ sức khỏe cho người lao động và dân cư chung quanh.
Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông
Công trình "Hệ thống phần mềm nhận dạng vân tay tự động hóa các tàng thư, căn cước công dân, căn cước can phạm và tra cứu dấu vết vân tay hiện trường phục vụ công tác quản lý hành chính và điều tra tội phạm" của tác giả Nguyễn Ngọc Kỷ thuộc Cục Công nghệ tin học, Tổng cục Kỹ thuật (Bộ Công an). Hệ thống CÚFRIS là hệ thống phần mềm nhận dạng vân tay tự động, được thiết kế trong nước, có giá trị về mặt khoa học cũng như ứng dụng thực tiễn, đáp ứng được sáu tiêu chí cơ bản của một hệ nhận dạng vân tay tự động mà quốc tế thường dùng để đánh giá một hệ nhận dạng vân tay. Nhóm tác giả đã tham khảo sử dụng nhiều bộ công cụ phát triển của các hãng nổi tiếng trên thế giới để học tập và từng bước thay thế bằng bộ công cụ "nội lực". Hệ thống được triển khai hoạt động tiện dụng, tốc độ tra cứu nhanh, độ chính xác cao. Giá thành hệ CÚFRIS chắc chắn thấp hơn nhiều lần giá thành của các hệ nhập ngoại. Kết quả nghiên cứu ứng dụng đạt được là cơ sở quan trọng để lãnh đạo Bộ Công an cho chủ trương ứng dụng rộng rãi trong toàn ngành đang có nhiều đòi hỏi cấp thiết.
Lĩnh vực sinh học phục vụ sản xuất và đời sống
Công trình "Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống khoai tây sạch bệnh bắt nguồn từ nuôi cấy mô cho miền bắc Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quang Thạch và cộng sự thuộc Viện Sinh học nông nghiệp (Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội). Công trình đã phối hợp biện pháp xử lý nhiệt và nuôi cấy meristem thích hợp trong việc tẩy sạch bệnh vi-rút cho cây, biện pháp lục hóa và xác định vật liệu đóng gói thích hợp trong bảo quản củ invitro, tạo cây nuôi cấy mô có diện tích lá lớn, sức sinh trưởng mạnh thuận lợi cho việc ra cây và tạo củ invitro, tạo điều kiện thuận lợi nhất về chế độ nước, dinh dưỡng để ra cây thành công. Lần đầu tiên ở Việt Nam đã hình thành được hệ thống sản xuất khoai tây giống chất lượng cao ở quy mô lớn và bắt đầu đi vào thực tiễn sản xuất. Sự vận hành hệ thống này sẽ góp phần giải quyết khoai tây giống chất lượng cao ở Việt Nam và làm lợi cho Nhà nước hàng tỷ đồng, do giá thành sản xuất củ giống trong nước chỉ bằng một nửa so với giá nhập khẩu. Sản phẩm giống tạo ra đạt tiêu chuẩn quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và do Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng trung ương đánh giá.
Lĩnh vực công nghệ nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên
Công trình "Nghiên cứu sự đóng cặn và các giải pháp khắc phục sự đóng cặn trong hệ thống cấp nước sạch, nhằm đảm bảo cấp nước uống an toàn" của tác giả Trương Công Nam và cộng sự thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên - Huế. Công trình đã tìm ra được nguyên nhân của sự tích tụ cặn trong hệ thống cấp nước, từ đó áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp nhằm hạ độ đục nước sau xử lý xuống dưới 0,2 NTU, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn hiện nay của Bộ Y tế (2 NTU). Làm cơ sở ứng dụng than an-tra-xit hiệu quả hơn, vừa nâng cao tốc độ lọc (1,3 lần), vừa nâng cao chất lượng nước. Giải pháp loại bỏ tất cả các cặn bẩn tích tụ, lưu cữu trong hệ thống cấp nước bằng việc sử dụng mút để thông rửa bên trong các tuyến ống trên toàn mạng cấp. Ðối với loại cặn phát sinh bên trong các tuyến ống là do các ống gang, thép kém chất lượng, không có lớp bảo vệ bên trong, công trình đưa ra công nghệ xử lý bề mặt và tráng bảo vệ bên trong các loại ống này. Hiệu quả kinh tế mang lại là nâng cao toàn diện chất lượng nước, tiết kiệm chi phí lớn đầu tư xây dựng các trạm hóa trộn và bơm châm clo bổ sung. Mỗi năm công ty tiết kiệm được hơn 11 tỷ đồng, đồng thời nâng cao sức khỏe người dân.
Lĩnh vực công nghệ nhằm tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mới
Công trình "Nghiên cứu triển khai ứng dụng thiết bị bếp nấu năng lượng mặt trời" của tác giả Hoàng Dương Hùng và cộng sự thuộc Trường đại học Bách khoa - Ðại học Ðà Nẵng. Bếp nấu dùng năng lượng mặt trời do công trình nghiên cứu chế tạo là bếp hình hộp và bếp Pa-ra-bôn, đây là những thiết bị lần đầu tiên được chế tạo và triển khai tại Việt Nam. Thiết bị bếp năng lượng mặt trời đạt được các tiêu chí: hiệu suất thiết bị, sự thuận lợi và an toàn cho người sử dụng, dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có, gọn nhẹ, thuận tiện cho việc vận chuyển, giá thành thấp nhất, độ bền thiết bị cao. Ðối tượng được hưởng thụ sản phẩm là người nghèo ở những vùng nông thôn, trung du, miền núi, giúp người dân đỡ vất vả trong việc tìm kiếm nhiên liệu, hạn chế tình trạng chặt phá rừng làm chất đốt, góp phần bảo vệ môi trường.
Tính chung, các giải pháp công nghệ được trao giải thưởng lần này đã tiết kiệm năm trăm tỷ đồng và đem lại việc làm cho hàng nghìn lao động, cải thiện môi trường sống cho nhiều vùng, miền của đất nước. Trong năm 2009, Ban tổ chức Giải thưởng sáng tạo Khoa học - Công nghệ Việt Nam tiếp tục triển khai trên cả nước, tuyên truyền giải thưởng, hỗ trợ các nhà khoa học sáng tạo, nghiên cứu và đưa vào áp dụng nhiều giải pháp công nghệ, nhằm đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống, tăng mức thưởng của giải thưởng, thực hiện có hiệu quả Quyết định 165/CP của Thủ tướng Chính phủ về Hội thi Sáng tạo kỹ thuật.
PGS, TS HỒ UY LIÊM
Quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học
và kỹ thuật Việt Nam, Trưởng ban Tổ chức Giải thưởng